Trong hơn 4000 năm lịch sử dựng nước và giữ nước, dân tộc Việt Nam đã và đang viết lên những trang sử hào hùng. Các chiến thắng Bạch Đằng, sông Tô Nguyệt, Rạch Gầm – Xoài Mút hay chiến dịch Điện Biên Phủ 1954, Mậu Thân 1968,… đều là những chiến công vang dội, thấm nhuần tư tưởng yêu nước, kiên trung từ ngàn đời nay. Đặc biệt, chiến thắng Điện Biên Phủ – lừng lẫy năm châu chấn động địa cầu, đã trở thành dấu son chói lọi, mở ra kỷ nguyên mới cho dân tộc Việt. Chiến thắng này đã làm thay đổi cục diện thế giới, khẳng định sức mạnh chính nghĩa của Việt Nam, của nhân dân yêu chuộng hòa bình, độc lập trên thế giới.
Đánh giá Điện Biên Phủ là một vị trí chiến lược quan trọng bậc nhất ở Đông Dương, nên sau khi đánh chiếm Điện Biên Phủ vào ngày 20-11-1953, quân Pháp không ngừng tăng thêm binh lực, vũ khí, trang thiết bị quân sự, xây thêm nhiều công sự, đồn lũy và các loại vật tư khác, xác định cứ điểm là một pháo đài bất khả xâm phạm. Ngày 6-12-1953, Bộ Chính trị quyết định mở Chiến dịch Điện Biên Phủ với khẩu hiệu “Tất cả cho tiền tuyến, tất cả để chiến thắng!”, cả nước dồn sức cho chiến trường Điện Biên Phủ. Đến đầu tháng 3-1954, công tác chuẩn bị mọi mặt cho chiến dịch đã hoàn thành.
Trong bộ phim tài liệu nổi tiếng của đạo diễn Pháp đã dẫn lời Chủ tịch Hồ Chí Minh rằng: “Nếu như con hổ dừng lại thì sẽ bị đâm thủng bởi ngà voi sắc bén. Nhưng nó sẽ không dừng lại. Chú hổ sẽ tiếp tục tấn công cho đến khi con voi chết vì kiệt sức và bị mất máu. Điện Biên Phủ sẽ là mồ chôn của voi”. Câu nói này đã khẳng định sức mạnh của ý chí quyết tâm “thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ” của quân và dân ta.
Chỉ với vũ khí thô sơ và tinh thần “Cảm tử cho Tổ quốc quyết sinh”, nhân dân cả nước đã nhất tề đứng lên kháng chiến, phát huy cao độ tinh thần yêu nước, chủ nghĩa anh hùng cách mạng. Các đơn vị bộ đội chủ lực, thanh niên xung phong, dân công hỏa tuyến ngày đêm bạt rừng, xẻ núi, mở đường kéo pháo, xây dựng trận địa, nhanh chóng tập kết đội hình, sẵn sàng tiến công địch. Bằng tinh thần quả cảm, không ngại khó khăn, gian khổ, hy sinh, chấp hành mọi mệnh lệnh của trên, quân và dân ta vượt qua mọi khó khăn, thử thách; tổ chức, bố trí lại toàn bộ đội hình chiến đấu. Trong đó, khó khăn nhất là bố trí lại hệ thống hỏa lực, phải kéo pháo ra, kéo pháo vào các trận địa mới trong điều kiện địa hình, thời tiết vô cùng khó khăn, phức tạp. Tổng chỉ huy Quân đội Pháp ở Bắc Bộ lúc đó đã nhận xét: “Quân đội cộng sản được võ trang mạnh, lại mạnh thêm vì có cơ cấu chính trị đặc biệt… quân đội ấy làm việc rất nhiều, theo nỗ lực chung được mọi người nhất trí, tấm gương này đáng để chúng ta suy ngẫm”.
Bên cạnh đó, chúng ta gặp nhiều khó khăn, cả tiềm lực quân sự, kinh tế, địa hình hiểm trở, xa hậu phương,… Về lực lượng, Quân đội ta tuy quân số có đông hơn đối phương, kinh nghiệm đánh công kiên chưa nhiều, vũ khí kém hiện đại hơn địch,… Nhưng dưới sự lãnh đạo của Đảng, chúng ta đã huy động được tối đa sức người, sức của, bao gồm thanh niên xung phong, dân công hỏa tuyến, với số lượng cao điểm có lúc lên đến hàng chục vạn người; được tổ chức, biên chế khá chặt chẽ, cùng với bộ đội đào giao thông hào, làm đường dã chiến trong điều kiện rất khó khăn, gian khổ của vùng rừng núi Tây Bắc, lại luôn bị máy bay địch oanh tạc,… Với ý chí quyết chiến, quyết thắng; bằng trí thông minh, lòng quả cảm và niềm tin mãnh liệt vào chiến thắng, trong khoảng thời gian hơn một tháng, bộ đội và thanh niên xung phong đã hoàn thành một khối lượng công việc vô cùng đồ sộ; mở hàng trăm tuyến hào, sửa đường từ Tuần Giáo tới Điện Biên Phủ (dài 82 km), tạo điều kiện thuận lợi cho các lực lượng và xe kéo pháo, đặc biệt là pháo hạng nặng (105mm) có thể triển khai vào trận địa an toàn và bí mật. Chính điều đó đã gây bất ngờ lớn cho Quân đội Pháp.
Đại tướng Võ Nguyên Giáp từng nhận định: “điều quan trọng không phải là một cuộc tấn công chớp nhoáng mà là một cuộc chiến dài hơi, nghiền nát từng phần của quân địch”. 17h30 ngày 13/3/1954, Đại tướng đã ra lệnh nổ súng mở đầu chiến dịch. Sau ba đợt tấn công, đến 17h30 ngày 7/5/1954, lá cờ “Quyết chiến quyết thắng” của Quân đội nhân dân Việt Nam tung bay trên nóc hầm tướng De Castries. Tướng De Castries và toàn bộ Bộ chỉ huy tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ phải ra hàng.
Dù Việt Nam là một nước không lớn, quân đội Việt Nam không có nhiều vũ khí, nhưng người Việt Nam có nghệ thuật quân sự của riêng mình. Đó là nghệ thuật quân sự dựa vào nhân dân, lấy đoàn kết và quyết tâm làm sức mạnh. Chiến thắng này là kết quả của sức mạnh tổng hợp trên nền móng truyền thống mấy ngàn năm giữ nước của dân tộc: từ ý chí quyết tâm đến cách đánh sáng tạo; sơ tán để bảo vệ nhân dân, giữ gìn lực lượng dự bị hỗ trợ chiến đấu; đoàn kết toàn dân tộc đến sức mạnh ủng hộ quốc tế trong sáng.
interesting for a very long time
thank you very much
_________________
https://bdsports.space
+ for the post