Nước chảy mây trôi – Chương cuối
Nước chảy mây trôi – Chương cuối

Nước chảy mây trôi – Chương cuối

Có những chuyện đã biết chắc sẽ xảy ra nhưng khi thực sự xảy ra chúng ta vẫn không khỏi bàng hoàng. Ngày 19 tháng 12 năm Kỹ mão (tức ngày 3/2/1920) hoàng thượng băng hà, phát tang cả nước. Tiên đế băng hà là chuyện không sớm thì muộn vì hai năm trước, tiên đế lâm bệnh nặng đã sai thái tử chép lại chiếu thư. Trước đó “ cuộc chiến ” tranh giành thái tử đã tạo ra một đợt sóng ngầm giữa các phe phái trong triều đình. Cũng may là không xảy ra chiến sự, chỉ là những cuộc cãi vã và âm thầm thanh trừng lẫn nhau. Cuộc chiến chấm dứt sau vụ việc đại quan Nguyễn Văn Thành uống thuốc độc tự tử trong một vụ án có liên quan tới việc này, phe ủng hộ hoàng tôn Mỹ Đường thất bại khi tiên đế chính thức phong cho hoàng tử Nguyễn Phúc Đảm làm Thái tử năm 1817.

Thái tử Đảm lên ngôi trong yên bình và bắt đầu thực hiện hàng loạt những cải cách của mình. Trong cuộc chiến tranh giành ngôi vị thái tử, may mắn thay phu quân và cả nhà ta đứng ở phe trung lập. Sau khi tân đế lên ngôi, cha và phu quân lần lượt được thăng chức và điều đến phân vị khác làm việc. Những năm đầu tân đế trị vì, trong đời sống người dân và trên triều có nhiều thay đổi rõ rệt. Dưới góc nhìn của một phụ nhân chỉ quanh quẩn trong nhà và trong chợ như ta thì tân đế là một vị vua tốt, có trách nhiệm. Lên ngôi ở tuổi ba mươi giúp ngài có một sự am hiểu về triều chính sâu rộng và hết mực lo cho đời sống người dân. Tuy nhiên không ai là toàn vẹn cả trong lẫn ngoài, những chính sách và quyết định của tân đế đã đem đến một số hậu quả nhất định. Trong đó phải kể đến việc bế quan tỏa cảng, cấm người dân giao du với phương Tây và đồng thời quá tập trung mở rộng lãnh thổ. Ta không hiểu lắm những việc trên, tất cả đều là phu quân kể và phân tích cho ta nghe. Nhưng việc duy nhất ta nhận thức được là trong hai mươi mốt năm tại vị của tân đế, đất nước đã xảy ra quá nhiều cuộc chiến loạn. Là một người dân bình thường điều ta sợ nhất là chiến tranh. Dù nhà chúng ta cách xa những nơi đó nhưng hàng năm khi thấy dòng người tị nạn chạy về phía kinh thành đều làm ta cảm thấy rất xót thương.

Năm Minh Mạng thứ ba, hai đứa con trai ta lần lượt vào học ở Quốc tử giám. Hai năm sau con gái lớn chính thức lên kiệu hoa gả về nhà chồng. Gia đình chồng là một thương nhân bán gạo có tiếng trong vùng. Có người dè bỉu nói ta gả con gái cho thương nhân là gả thấp, không môn đăng hộ đối. Nhưng thế nào là gả thấp, gạo các người ăn không phải mua từ nhà họ sao, số tiền nhà họ kiếm được trong một tháng bằng số tiền các ngươi sống trong một năm, quan trọng là con gái ta với con trai nhà họ tâm đầu ý hợp biết chưa hả. Nghe ta nói như vậy, tất cả biết điều mà im như cún. Đụng tới ta thì được, đừng hòng đụng tới các con của ta!

Vốn dĩ ta cũng rất đắn đo vì con bé cũng mới mười sáu, nếu có thể chờ thêm hai năm nữa rồi gả đi thì tốt. Bởi vì mười sáu tuổi ta đã kết hôn nên ta hiểu được con gái nếu gả đi khi còn nhỏ quá thì không tốt cho sức khỏe. Nhưng nếu để đến mười tám tuổi mới gả ra ngoài thì sẽ mang tiếng là gái lỡ thì. Nên thôi, ta chỉ có thể dặn dò con gái đừng vội sinh con, chờ một hai năm sức khỏe ổn định rồi tính. Ngoài mặt hai đứa nó là lưỡng tình tương duyệt nhưng thực chất hai nhà chúng ta có một tầng quan hệ khác. Đám sĩ Nho đều chê thương nhân là tầng lớp thấp hèn, mở miệng ra là sĩ nông công thương, “ăn buôn bán gian”. Nếu xã hội này không có trao đổi, mua bán hàng hóa thì khéo mà tồn tại được ba ngày. Trước khi trở thành thông gia, nhà ta và nhà bên đấy là quan hệ hợp tác, có qua có lại. Nhà họ buôn bán gạo mà gạo lại là lương thực chính bị triều đình quản lý nghiêm ngặt nên bất kỳ giao dịch nào cũng cần một ít phí lót đường. Nhưng nếu có người bên trên bảo kê thì công việc sẽ trơ tru hơn nhiều. Và vừa hay phu quân ta chính là “người bên trên” đó. Vì hai nhà thường xuyên qua lại nên đứa lớn nhà họ và con gái ta thường chạm mặt nhau, lâu dần nảy sinh tình cảm. Khi đề ra mối hôn sự này, phu quân cùng ta không phải không có lòng riêng nhưng quan trọng nhất vẫn là con gái ta ưng bụng chàng rể này. Vậy là được.

Mặc dù phu quân đã ngăn ta lại nhưng ta vẫn kìm lòng không được mua thêm vài gương đồ hồi môn cho con bé. Nhà bên đó nhiều tiền như vậy không thể để con gái ta vừa vào cửa đã bị nói là nhà nghèo! Ngày thành hôn đến, không khí vui mừng tràn ngập cả con đường. Đột nhiên ta phát hiện mình đã không còn nhớ cảm xúc ngày lên kiệu hoa nữa rồi. Ta bước đến bên cạnh phu quân, chàng nhìn ta rồi cười, dưới lớp áo hai bàn tay chúng ta nắm lấy nhau. Mới đó đã thật nhiều năm qua đi.

—Hết.—

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *